Ngọn nến vẫn cháy mãi
TT – Cậu bé trông thật khôi ngô mang món tiền 1.200.000
đồng là phần thưởng cho giải nhất Hội thi tin học trẻ toàn
ngành bưu chính viễn thông đến văn phòng Tuổi Trẻ ở Hà
Nội để góp vào quĩ xây dựng bệnh xá Đặng Thùy Trâm.
Cậu tên Nguyễn Đặng Việt Anh, đang học lớp 11 toán tin ở
Trường chuyên Hà Nội – Amsterdam. Cậu nói thêm, nhỏ nhẹ:
“Cháu là cháu của bác Thùy”.
Nghe giọng nói của cậu, người ta có thể tưởng tượng là bác Thùy
của cậu đang ở nhà, bác Thùy bảo cậu mang tiền đến và chút nữa cậu về nhà là gặp bác. Nhưng
bác Thùy của cậu chính là người con gái mãi mãi 20 tuổi – bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Trong gia
đình bé nhỏ của cậu, bác Thùy vẫn luôn luôn hiện diện từng ngày.
Nếp nhà
Căn nhà nhỏ nằm trong một con hẻm cũng rất nhỏ ở phố Đội Cấn. Cụ bà Doãn Ngọc Trâm, mẹ
của chị Thùy, đã 81 tuổi mà vẫn minh mẫn lạ thường. Cụ vẫn tiếp khách, nghe điện thoại, chăm
sóc con cháu, giải quyết các công việc gia đình một cách nhẹ nhàng, sáng suốt.
Cụ bà ở với chị Đặng Kim Trâm – người con gái út – và đứa cháu ngoại. Chị Đặng Hiền Trâm và
gia đình cũng ở ngay cạnh đó, chỉ cách không đầy 50m. Tất cả các cô con gái đều muốn quây
quần quanh mẹ. Bà còn ba cô con gái nhưng không có cháu gái nào, cả năm đứa cháu đều là
trai. Người con trai duy nhất của bà cụ và cũng là cậu con út trong nhà – Đặng Hồng Quang, một
thanh niên ưu tú và tài hoa – cũng đã nằm lại trên đất Nga xa xôi từ 20 năm trước vì một cơn
bệnh hiểm nghèo. Khi ấy anh mới ở tuổi 23.
Ngôi nhà của bà cụ bé như hầu hết những ngôi nhà trong các con ngõ của Hà Nội. Chị Thùy
không sinh ra và lớn lên ở đây. Ngôi nhà cũ, nơi chị ra đi, còn chật hẹp hơn thế này. Nhưng ở đó,
cái gia đình nhỏ của hai vợ chồng người trí thức miền Trung cùng năm người con của họ đã sống
những tháng ngày đẹp như trong cổ tích.
Bà cụ nói: “Gia đình không tưởng tượng được là ngay ở Đức Phổ, Quảng Ngãi mà Thùy còn gây
dựng được một vườn thuốc và người dân vẫn giữ gìn đến tận bây giờ”. Chị Kim Trâm tiếp lời:
“Vốn kiến thức về dược liệu mà chị Thùy có đấy là được mẹ truyền cho từ ngày còn nhỏ.
71
Trường y đâu có dạy chị về dược liệu, nhất là thuốc nam. Hồi bé, chúng tôi ở với cha mẹ ngay
trong khu tập thể Bộ Y tế, đằng sau là một vườn thực vật rộng mênh mông. Ngoài giờ học và
làm việc nhà, mấy chị em toàn chạy vào vườn thuốc chơi.
Chúng tôi lấy những lá chuối to che lại làm lều, “cắm trại” ngay trong vườn thuốc, trò chơi yêu
thích nhất của chúng tôi là “đố cây đố lá”, lá này của cây gì, dùng để làm gì. Không biết thì về
hỏi mẹ. Cứ như thế mà chúng tôi biết được tên gọi và công dụng của các cây thuốc trong vườn”.
Bà cụ lại tiếp: “Thùy nó học nhiều hơn ở cha. Thùy học chuyên khoa mắt, không học ngoại,
nhưng hằng ngày sau khi học ở trường y về Thùy vẫn đến bệnh viện của cha để theo dõi cha mổ,
để học thêm những kinh nghiệm điều trị của cha. Tối đến, hay vào các ngày nghỉ, hai cha con lại
say sưa cùng nhau vẽ. Ông ấy không dạy Thùy vẽ tranh phong cảnh mà dạy con vẽ người trên
các bức hình giải phẫu. Ông ấy vẽ đẹp lắm, Thùy nhờ cha cũng vẽ rất khá, và cũng từ các bức vẽ
“anatomie” ấy, cùng với những lần theo cha đi trực giải phẫu mà sau này khi vào chiến trường,
nó có thể bắt tay làm phẫu thuật thương binh được, dù học chuyên khoa mắt”.
Chị Hiền Trâm và chị Kim Trâm đều thống nhất là “mẹ thương chị Thùy nhất nhà, vì chị phải
thay mẹ chăm lo cho các em”. Chị Hiền Trâm kể: “Mẹ chúng tôi hầu như không bao giờ phải
đụng đến chuyện tiền nong. Lương cha mẹ lĩnh về giao hết cho chị Thùy, chị tự lên kế hoạch
mua bán, đi chợ, nấu nướng, mua sắm vật dụng gia đình, sách vở bút mực cho các em. Khi chị
vào Nam rồi thì có chị Phương Trâm thay vai trò chị cả, chị Phương Trâm đi thì Hiền Trâm lo.
Nhà tôi sống như vậy, tất cả mọi người đều quan tâm đến nhau, đều sống vì mỗi người, nhưng
không ai xâm phạm đến tự do của ai”.
Bà cụ bảo: “Các con gái của tôi đều viết nhật ký, vợ chồng tôi khuyến khích chúng ghi chép lại
những việc đã làm trong ngày, cùng những suy nghĩ, cảm tưởng của mình, nhưng cả nhà không
ai đọc nhật ký của ai cả, dù chúng có được mở ra ngay trước mắt. Thấy Thùy nó buồn, cũng
nghe bạn bè nó nói phong thanh là chuyện tình yêu của nó không thành, nhưng vợ chồng chúng
tôi cũng không hỏi. Lúc nào con nó thấy cần nói thì nó sẽ nói”.
Khi được hỏi: “Các chị học được điều gì quan trọng nhất từ cha mẹ?”, các chị đều thống nhất:
tính lạc quan yêu đời, niềm tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Chị Hiền nói: “Cha tôi là
một chuyên gia giải phẫu, nhưng suốt từ khi theo kháng chiến đến khi về hưu, ông cụ vẫn chưa
được xếp vào diện “cán bộ bìa C” và chưa từng vào Đảng vì lý lịch “chưa rõ ràng”.
Còn mẹ tôi là “cảm tình Đảng” gần 30 năm, đến khi giải phóng miền Nam rồi, xác minh được lý
lịch rõ ràng mới được kết nạp Đảng. Tất cả chị em chúng tôi thi đại học đều đủ hoặc thừa điểm
72
đi nước ngoài nhưng không ai được đi – cũng vì lý lịch “chưa rõ ràng” – mà chị Thùy đã nhiều
lần buồn bã nhắc đến trong nhật ký. Nhưng cha mẹ chúng tôi đều không lấy đó làm bi quan, chán
nản hay sinh ra bất mãn.
Cha mẹ vẫn phấn đấu học tập, rèn luyện chuyên môn, làm thuốc, chữa bệnh cứu người và động
viên chúng tôi học hành. Ngôi nhà chúng tôi lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười, tối đến cả nhà quây
quần đàn hát. Cha mẹ đều hát rất hay, chị Thùy cũng hát rất hay. Chúng tôi vẫn sống như thế,
đến tận bây giờ”.
Ngọn nến vẫn cháy mãi
Từ nhiều ngày nay, khi nhật ký của chị Thùy và số phận kỳ lạ của nó được báo chí và các
phương tiện thông tin liên tục nhắc tới, các đoàn khách liên tục gọi điện và đến thăm khiến cụ bà
Doãn Ngọc Trâm hơi mệt, nhưng cụ rất cảm động và tự hào.
Thật khó mà không xúc động khi bước vào ngôi nhà nhỏ ấy, ngồi giữa những con người bình dị
trong ngôi nhà ấy, chứng kiến những tình cảm mà họ dành cho nhau và cho cuộc đời này.
Kim Trâm nói: “Nhu cầu được yêu thương con người của chị Thùy lớn lắm vì từ nhỏ chị ấy đã
được sống giữa tình yêu của mọi người. Tôi không ngạc nhiên là trong nhật ký chị Thùy viết
nhiều về tình yêu đến thế, thứ tình yêu không phải của nam nữ, mà lớn hơn thế rất nhiều, tình
yêu thương của con người với nhau”.
Đọc nhật ký chị Thùy, càng thấy chị với những con người trong ngôi nhà này gắn với nhau, hòa
với nhau là một. Cụ bà đang có “âm mưu” góp 10 triệu đồng – số tiền dành dụm được nhờ dịch
sách y học của cụ suốt mấy năm qua – để đóng góp cho bệnh xá mang tên con gái. Cụ khăng
khăng: “Cả nhà có đóng góp riêng, các em gái góp riêng, các cháu góp riêng thì bà cũng phải
được góp phần bà chứ”.
Nguyễn Đặng Việt Anh đã góp số tiền giải thưởng của mình thì anh trai cậu – Nguyễn Đặng Hồ
Anh – cũng lặng lẽ đóng góp tháng lương thử việc đầu tiên của mình vào “bệnh viện bác Thùy”.
Các cậu sinh ra khi bác Thùy đã hi sinh rất lâu, nhưng chưa một ngày nào người bác ấy ra đi
khỏi ngôi nhà của các cậu.Từ khi Thùy Trâm vào Nam, cả đến lúc được tin chị hi sinh, cho đến
bây giờ năm nào cũng vậy, vào sinh nhật Thùy Trâm, cả nhà vẫn mua hoa, mua bánh gatô và
thắp nến cho “bác Thùy” . Những ngọn nến vẫn còn cháy mãi, như là Thùy Trâm chỉ vừa đi vắng
và sắp về. Như là tuổi 20 của người con gái ấy…
73
Bà Doãn Ngọc Trâm (mẹ bác sĩ Thùy Trâm)

“Báo chí, sách vở, bạn bè đồng đội quan tâm đến Thùy làm tôi càng nghĩ càng thương bao nhiêu
bà mẹ khác. Họ cũng có con đi chiến đấu như Thùy, cũng hi sinh như Thùy, nhưng không may
mắn để lại được chút tâm sự như Thùy. Có những bà mẹ đến giờ này vẫn chưa biết con mình
nằm lại ở đâu. Có những người rõ ràng biết con mình hi sinh rồi nhưng do sự thờ ơ, tắc trách
của những người làm chính sách mà đến bây giờ vẫn chưa được công nhận. Sao lại máy móc
cứng nhắc đòi hỏi bao nhiêu thứ giấy tờ thế? Các bà mẹ ngày xưa cho con ra trận có suy nghĩ
đòi hỏi nhiều thế đâu? Tôi cũng chỉ mong là nhân dịp này, khi báo chí và sách vở đang nói nhiều
về chuyện của Thùy thì những người làm chính sách cũng thấy có một chút xúc động và có trách
nhiệm hơn”.
Thông điệp của trái tim

TT – Thế là ròng rã nhiều ngày, trang báo Tuổi Trẻ giới thiệu
câu chuyện về cuốn nhật ký của Đặng Thùy Trâm đã tạm
khép lại. Câu chuyện tựa như chuyện cổ tích ấy đã khơi dậy
và thổi bùng ngọn lửa lý tưởng vốn đã ấp ủ sâu kín trong trái
tim của tuổi trẻ VN.
Ngọn lửa từ trái tim của một thế hệ tuổi trẻ trong chiến tranh đã
ngời sáng mãi lý tưởng của thế hệ trẻ hôm nay đang gánh trên vai mình sự nghiệp cao cả mà thế
hệ đi trước đã trao lại.
Phải có con mắt tinh đời và một trái tim biết yêu thương sâu nặng mới thấy được “lửa” trong
cuốn nhật ký tình cờ tìm thấy trong đống tro tàn của chiến tranh để đưa ra lời khuyên “đừng đốt
cuốn sổ này.
Bản thân trong nó đã có lửa rồi!” (Nhật ký Đặng Thùy Trâm – tr.21). Đó là lời của một người
lính đứng bên kia trận tuyến của tác giả cuốn nhật ký, thượng sĩ Nguyễn Trung Hiếu. Và rồi lời
nhắn nhủ “các bạn trẻ, với điều bạn học được từ những gì cô ấy viết, hãy chiến đấu chống đói
nghèo với lý tưởng của bác sĩ Đặng Thùy Trâm bằng cách hi sinh những niềm vui tầm thường…
Hãy xem Tổ quốc các bạn cần gì trước khi tính toán đến nhu cầu của bản thân và nuôi dưỡng
tinh thần của bác sĩ Đặng Thùy Trâm” (Tuổi Trẻ ngày 3-8-2005), cũng từ một người đã từng là
lính Mỹ trên chiến trường, nơi Thùy Trâm đã ngã xuống, tiến sĩ Frederic Whitehurst, người đã
trân trọng giữ gìn cuốn nhật ký của Thùy Trâm trong suốt 35 năm để hôm nay chúng ta có may
mắn được đọc.
Càng hiểu hơn nhân cách và bản lĩnh của tác giả cuốn nhật ký khi biết về người mẹ của chị, cũng
như tấm lòng cao cả của con gái mình, cụ bà Doãn Ngọc Trâm “càng nghĩ càng thương bao
nhiêu bà mẹ khác. Họ cũng có con đi chiến đấu như Thùy, cũng hi sinh như Thùy, nhưng không
may mắn để lại được chút tâm sự như Thùy. Có những bà mẹ đến giờ này vẫn chưa biết con
mình nằm lại nơi đâu” (Tuổi Trẻ ngày 4-8-2005).
Và bên kia đại dương, nhạy cảm cũng với một trái tim người mẹ, mẹ của Frederic Whitehurst,
khi được con trai mình cho xem hai cuốn sổ nhật ký tìm được tại chiến trường VN xa xôi, hiểu
sâu sắc về con mình, bà đã khuyên Fred “hãy cẩn thận bởi vì hai cuốn sổ này có thể thiêu cháy
cuộc đời anh”. Mà quả vậy, “trái tim Fred luôn bị nung nấu vì ngọn lửa tỏa ra từ hai cuốn sổ nhỏ
75
ố vàng” (tr.23) của người con gái xa lạ đã chết trong ngọn lửa chiến tranh mà chính anh buộc
phải tham gia.
Đúng như lời của người chỉnh lý cuốn nhật ký, Đặng Kim Trâm thiết tha muốn nhìn vào mắt
người đã thấy được trong cuốn nhật ký của chị mình “có lửa”, tìm cách giữ gìn nhằm làm cho
ngọn lửa ấy cháy bùng lên trong trái tim mọi người để “nói với nhau rằng tiếng nói của tình yêu
và khát vọng hòa bình có thể vượt qua mọi chiến tuyến để đến với những trái tim tốt lành”
(tr.27). Cuốn nhật ký của một người con gái VN hi sinh cách đây 35 năm đã vượt xa ý định của
người viết, nó đã đảm đương được một sứ mệnh cao cả: “là một cây cầu, một con đường bắc qua
dòng sông chứa chất những vô tình, những cay đắng, những lòng tin lầm lạc” mà Robert
Whitehurst, anh trai của người lính Mỹ đã gìn giữ cuốn nhật ký, viết trong thư gửi đến mẹ của
Thùy Trâm (Tuổi Trẻ ngày 28-7-2005).
Ngọn lửa trong cuốn nhật ký ấy vẫn cháy sáng mãi mãi khát vọng sống mãnh liệt mà Thùy Trâm
đã viết bốn ngày trước khi hi sinh: “Mình sẽ trở về chắt chiu vun xới cho tổ ấm gia đình, mình sẽ
biết quí từng phút, từng giây hòa bình ấy bởi vì có sống ở đây mới hiểu hết giá trị của cuộc sống.
Ôi! Cuộc sống đổi bằng máu xương, tuổi trẻ của bao nhiêu người. Biết bao cuộc đời đã chấm dứt
để cho cuộc đời khác được tươi xanh” (tr.255).
Trong suy ngẫm, tôi cảm nhận được câu chuyện tưởng như chuyện cổ tích về số phận của cuốn
nhật ký Đặng Thùy Trâm là một thông điệp của lòng nhân ái, khát vọng hòa bình và ý nghĩa cao
đẹp của cuộc sống con người dù họ ở đâu trên quả đất này.
TƯƠNG LAI
76
Người gìn giữ “cuốn nhật ký có lửa” đã đến
VN
TT – Cuối cùng thì ước nguyện của tiến sĩ Frederic
Whitehurst đã thành sự thật. Ngày 7-8, ông đã đặt chân lên
đất nước của tác giả “cuốn nhật ký có lửa”, người từng là
“đối phương” của ông cách đây 35 năm.
Buổi sáng ở sân bay Nội Bài thật bình yên. Rất nhiều hoa và
những khuôn mặt lấp lánh nụ cười…
“Con chào mẹ!”
Tiếng gọi mẹ của Fred và Robert bắt nguồn từ một lá thư gia đình gửi cho Fred trước đây. Trong
đó chị Kim Trâm viết rằng “giờ đây chúng tôi đã coi Fred như người nhà rồi”. Fred và Robert vô
cùng cảm động và gọi bà Doãn Ngọc Trâm là mẹ từ đó.
Cuộc gặp gỡ giữa anh em Fred, Robert và gia đình bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm đã được định
sẵn từ lâu. Thời gian được sắp xếp sít sao đến từng phút. Nhưng cảm giác hồi hộp vẫn hiện diện
trong căn nhà chị Đặng Kim Trâm trong thời gian chờ đợi.
Bộ bàn ghế được thay mới. Một lọ sen trắng và một bình hồng thơm ngát ở hai góc phòng. Bà
Doãn Ngọc Trâm mặc bộ đồ màu lơ nhạt ngồi trên ghế bành, trong khi các cô con gái Kim Trâm,
Hiền Trâm, Phương Trâm và các cháu hối hả sắp xếp chỗ ngồi. “Đến rồi!” – Hồ Anh, con trai chị
Hiền Trâm, chạy từ ngoài ngõ vào thông báo.
Robert, anh trai của Fred, chào bằng tiếng Việt: “Con chào mẹ!”. Fred bước vào và nói: “Con đã
chờ đợi phút giây này từ lâu lắm rồi mẹ ơi!”. Bà Doãn Ngọc Trâm nở nụ cười hồn hậu, nắm tay
hai anh em.
Ngồi xuống ghế, bà nói: “Hôm nay tôi mặc bộ quần áo màu xanh hòa bình mà Thùy Trâm vẫn ao
ước, vẫn khát vọng hòa bình cho toàn thế giới”. Cháu ngoại Việt Anh nhanh nhảu phiên dịch hộ
bà. Fred gật gù: “Vâng, con hiểu”.
Anh em Fred mở hành lý đem theo, tất cả đều là quà tặng dành cho gia đình: những cuốn sách
ảnh về nước Mỹ, hai lọ xirô, vài lọ mứt, đồ chơi cho Nghĩa – con trai chị Kim Trâm. Hai album
ảnh lớn của gia đình Fred và Robert được mở ra cho mọi người cùng xem.
77
Bà Doãn Ngọc Trâm bật cười trước ảnh Fred mũm mĩm hồi mới sinh. Tiếng cười lan tỏa khắp
căn phòng theo từng bàn tay lật giở cuốn album của bà.
Phần còn lại của cuộc trò chuyện diễn ra tại nhà chị Hiền Trâm cách đó không xa. Bên cạnh
những câu chuyện về ngành học của Việt Anh, của Hồ Anh, nghề nghiệp và gia đình của Fred,
câu chuyện những bông loa kèn là đề tài sôi nổi nhất.
Cả nhà cùng xem catalogue, bưu ảnh hoa, trao đổi về kinh
nghiệm trồng cây. Fred nói loa kèn là loài hoa ưa thích của hai
mẹ con Fred, rồi mở túi lấy ra vài cây, nói là để tặng riêng cho bà
Doãn Ngọc Trâm trồng thử.
Fred trìu mến nhìn bà và nói: “Mẹ cũng thích hoa huệ tây phải
không? Mẹ con cũng vậy. Mẹ con yêu hoa huệ tây vì sức sống
mãnh liệt của nó”.
Vong linh của Thùy dẫn đường cho chúng tôi
Kim Trâm đặt vào tay Fred và Robert cuốn sách Nhật ký Đặng
Thùy Trâm có đề dòng chữ của bà Doãn Ngọc Trâm: “Tặng
Fred, người con mới của gia đình, với trái tim người mẹ”. Cả nhà
cùng nhìn vào những tấm ảnh của Thùy Trâm trong sách. Và câu
chuyện về cuốn nhật ký lại ùa về. Robert nói: “Có một điều tôi tin chắc, vong linh của chị Thùy
đã chỉ đường cho chúng tôi tìm thấy gia đình chị. Cuộc gặp này không phải sự may mắn ngẫu
nhiên mà là cuộc gặp của tâm linh”.
“Cô biết không – Robert nói – Có rất nhiều bạn bè của chúng tôi không tin cuốn nhật ký là có
thật. Họ đọc và nói: câu chuyện rất hay, nhưng có vẻ giống tiểu thuyết quá. Họ nghi ngờ. Chỉ có
tôi và Fred biết sự thật. Tôi đã đọc đi đọc lại rất nhiều lần bản dịch trong hàng chục ngày liền
chỉ để tìm ra một manh mối khả dĩ. Fred có lúc chán nản, nhưng tôi luôn hi vọng. Dường như có
một ai đó thì thầm vào tai tôi, mách bảo tôi phải làm thế này, thế kia.
Tôi đã sao ra 24 bản copy đĩa CD cuốn nhật ký và phân phát tại cuộc hội thảo ở Texas. Ted (Ted
Engelmann: nhà nhiếp ảnh, cựu chiến binh Mỹ tại VN, từng đến VN nhiều lần để thực hiện một
dự án về ảnh chiến tranh – NV) là một người trong số đó.
78
Tôi đã khuyến khích Fred đến với cuộc hội thảo để nói về cuốn nhật ký và bày tỏ lòng mong
muốn tìm lại gia đình. Khi tiễn Fred lên máy bay, tôi nói: Chúng ta sẽ có được kết quả sau một
tháng nữa. Và rồi cô có tin được không, 33 ngày sau tôi nhận được điện của Ted nói rằng đã tìm
thấy gia đình Thùy Trâm. Chúng tôi hạnh phúc không tưởng tượng nổi”.
Robert quay sang Fred, nhận thấy Fred đang say sưa nói chuyện với chị Kim Trâm, anh hạ
giọng: “Còn có rất nhiều điều mà chúng tôi muốn tìm hiểu. Chúng tôi đã đọc nhật ký của chị
Thùy hàng trăm lần rồi, những câu chuyện về địa danh, về những con người mà chị kể sinh động,
giàu hình ảnh và ý nghĩa đến nỗi chúng tôi có cảm giác như bị thôi thúc khám phá về đất nước
của chị nhiều hơn, nhiều hơn nữa…
Chúng tôi muốn đến Quảng Ngãi để thăm lại nơi chị từng làm việc, gặp những người chị từng
gặp, càng nhiều càng tốt…”.
UYÊN LY
Chị Kim Trâm nói đã đến lúc thắp hương cho vong linh những thành viên của gia đình. Họ kính
cẩn cùng bước lên từng bậc thang. Chếch phía trái là bức chân dung của Thùy Trâm cười rạng
rỡ.
Bức ảnh của Thùy Trâm trên bàn thờ, một khuôn mặt sáng và tự tin hướng xuống đoàn người.
Fred cao vượt hẳn lên, tay chắp trước bụng, chạm khẽ vào vai bà Doãn Ngọc Trâm rồi đắm chìm
trong một khoảng không nào đó.
Chị Phương Trâm nhẹ nhàng hỏi: “Fred sinh năm 1947 phải không? Tháng mấy?”. Fred chợt
tỉnh, trả lời: “Tháng 11”. “Ồ thế thì cùng tháng, cùng năm sinh với tôi rồi. Thế còn ngày sinh?”.
Fred nói sinh ngày 22. Cả nhà ồ lên: “Thế thì Fred sinh trước Phương một ngày, Phương phải gọi
Fred bằng anh”.
79
Fred Whitehurst: “Tôi muốn cả thế giới biết đến
Đặng Thùy Trâm”
Đến Hà Nội sáng 7-8, Fred Whitehurst – người cựu binh Mỹ đã giữ di vật của các liệt sĩ Đặng Thùy Trâm – dường như phải cố gắng lắm để không bật khóc trước sự đón tiếp của gia đình các liệt sĩ và bất ngờ nhất là những cựu phóng viên chiến trường thuộc Tiểu ban Điện ảnh Quân khu 5 trước đây.
Hoa, những bàn tay nắm trong tay và những lời thăm hỏi ân cần
khiến Fred có lúc không nói nên lời. Fred hỏi thăm “các em gái
Trâm và mẹ Trâm của tôi”. Rồi ông được giới thiệu với những
phóng viên chiến trường năm xưa, những người đã từng ở bên
kia chiến tuyến với ông.
Fred nói với chúng tôi ngay khi vừa xuống máy bay: “Tôi muốn khóc… bạn còn quá trẻ, bạn
không hiểu được đâu…” – sự xúc động khiến Fred nghẹn ngào không thể tiếp tục. Gần một tiếng
sau, khi về tới Hà Nội, cuộc trò chuyện của chúng tôi với Fred vẫn đôi lúc bị gián đoạn bởi cảm
xúc và ký ức ùa về trong Fred:
“Trong những ngày sắp tới ở VN, tôi định thăm gia đình chị Trâm, chị Hiên, sẽ đi Đức Phổ,
Quảng Ngãi – nơi tôi đã ở trong chiến tranh. Tôi cũng muốn nói với mọi người về cuốn nhật ký,
về cuộc đời của Đặng Thùy Trâm. Tôi tin rằng Trâm là anh hùng không chỉ của VN mà của cả
thế giới. Chị Trâm là người tận tâm, một người tốt, là tấm gương để bất kỳ ai trên thế giới này có
thể noi theo. Tôi muốn câu chuyện về chị được kể lại cho mọi người”.
* Ông sẽ trở lại Phổ Cường – nơi ông nhặt được cuốn nhật ký. Ông nghĩ về chuyến đi đó?
- Tôi rất xúc động. Cũng như những người lính ở đây, tôi đã từng chứng kiến sự khốc liệt của
chiến tranh. Tôi muốn nhìn lại nơi Trâm đã hy sinh. Tôi cũng muốn nhìn thấy Đức Phổ. Cũng
như ở thành phố quê hương tôi, Đức Phổ là một làng nhỏ của những người dân không màng
vàng bạc châu báu, họ chỉ mong muốn tự do, chỉ mong muốn được quan tâm đến gia đình mình.
Tôi không muốn nhìn Đức Phổ như là một chiến trường mà là Đức Phổ bây giờ, với những gì đã
diễn ra từ bấy tới nay.
* Phổ Cường trong ký ức ông như thế nào nhỉ?






