MÃI MÃI TUỔI HAI MƯƠI !

KHI YÊU THƯƠNG ĐƯỢC CHO ĐI CŨNG LÀ KHI YÊU THƯƠNG CÓ THỂ ĐƯỢC GIỮ LẠI MÃI MÃI !

Archive for Tháng tám 4th, 2007

Nhật ký Đặng Thùy Trâm (phần 8)

Đăng bởi isoul on Tháng tám 4, 2007

Ngn nến vn cháy mãi

TT – Cu bé trông tht khôi ngô mang món tin 1.200.000

đng là phn thưởng cho gii nht Hi thi tin hc tr toàn

ngành bưu chính vin thông đến văn phòng Tuổi Trẻ

Ni đ góp vào quĩ xây dng bnh xá Đng Thùy Trâm.

Cậu tên Nguyễn Đặng Việt Anh, đang học lớp 11 toán tin ở

Trường chuyên Hà Nội – Amsterdam. Cậu nói thêm, nhỏ nhẹ:

“Cháu là cháu của bác Thùy”.

Nghe giọng nói của cậu, người ta có thể tưởng tượng là bác Thùy

của cậu đang ở nhà, bác Thùy bảo cậu mang tiền đến và chút nữa cậu về nhà là gặp bác. Nhưng

bác Thùy của cậu chính là người con gái mãi mãi 20 tuổi – bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Trong gia

đình bé nhỏ của cậu, bác Thùy vẫn luôn luôn hiện diện từng ngày.

Nếp nhà

Căn nhà nhỏ nằm trong một con hẻm cũng rất nhỏ ở phố Đội Cấn. Cụ bà Doãn Ngọc Trâm, mẹ

của chị Thùy, đã 81 tuổi mà vẫn minh mẫn lạ thường. Cụ vẫn tiếp khách, nghe điện thoại, chăm

sóc con cháu, giải quyết các công việc gia đình một cách nhẹ nhàng, sáng suốt.

Cụ bà ở với chị Đặng Kim Trâm – người con gái út – và đứa cháu ngoại. Chị Đặng Hiền Trâm và

gia đình cũng ở ngay cạnh đó, chỉ cách không đầy 50m. Tất cả các cô con gái đều muốn quây

quần quanh mẹ. Bà còn ba cô con gái nhưng không có cháu gái nào, cả năm đứa cháu đều là

trai. Người con trai duy nhất của bà cụ và cũng là cậu con út trong nhà – Đặng Hồng Quang, một

thanh niên ưu tú và tài hoa – cũng đã nằm lại trên đất Nga xa xôi từ 20 năm trước vì một cơn

bệnh hiểm nghèo. Khi ấy anh mới ở tuổi 23.

Ngôi nhà của bà cụ bé như hầu hết những ngôi nhà trong các con ngõ của Hà Nội. Chị Thùy

không sinh ra và lớn lên ở đây. Ngôi nhà cũ, nơi chị ra đi, còn chật hẹp hơn thế này. Nhưng ở đó,

cái gia đình nhỏ của hai vợ chồng người trí thức miền Trung cùng năm người con của họ đã sống

những tháng ngày đẹp như trong cổ tích.

Bà cụ nói: “Gia đình không tưởng tượng được là ngay ở Đức Phổ, Quảng Ngãi mà Thùy còn gây

dựng được một vườn thuốc và người dân vẫn giữ gìn đến tận bây giờ”. Chị Kim Trâm tiếp lời:

“Vốn kiến thức về dược liệu mà chị Thùy có đấy là được mẹ truyền cho từ ngày còn nhỏ.

71

Trường y đâu có dạy chị về dược liệu, nhất là thuốc nam. Hồi bé, chúng tôi ở với cha mẹ ngay

trong khu tập thể Bộ Y tế, đằng sau là một vườn thực vật rộng mênh mông. Ngoài giờ học và

làm việc nhà, mấy chị em toàn chạy vào vườn thuốc chơi.

Chúng tôi lấy những lá chuối to che lại làm lều, “cắm trại” ngay trong vườn thuốc, trò chơi yêu

thích nhất của chúng tôi là “đố cây đố lá”, lá này của cây gì, dùng để làm gì. Không biết thì về

hỏi mẹ. Cứ như thế mà chúng tôi biết được tên gọi và công dụng của các cây thuốc trong vườn”.

Bà cụ lại tiếp: “Thùy nó học nhiều hơn ở cha. Thùy học chuyên khoa mắt, không học ngoại,

nhưng hằng ngày sau khi học ở trường y về Thùy vẫn đến bệnh viện của cha để theo dõi cha mổ,

để học thêm những kinh nghiệm điều trị của cha. Tối đến, hay vào các ngày nghỉ, hai cha con lại

say sưa cùng nhau vẽ. Ông ấy không dạy Thùy vẽ tranh phong cảnh mà dạy con vẽ người trên

các bức hình giải phẫu. Ông ấy vẽ đẹp lắm, Thùy nhờ cha cũng vẽ rất khá, và cũng từ các bức vẽ

“anatomie” ấy, cùng với những lần theo cha đi trực giải phẫu mà sau này khi vào chiến trường,

nó có thể bắt tay làm phẫu thuật thương binh được, dù học chuyên khoa mắt”.

Chị Hiền Trâm và chị Kim Trâm đều thống nhất là “mẹ thương chị Thùy nhất nhà, vì chị phải

thay mẹ chăm lo cho các em”. Chị Hiền Trâm kể: “Mẹ chúng tôi hầu như không bao giờ phải

đụng đến chuyện tiền nong. Lương cha mẹ lĩnh về giao hết cho chị Thùy, chị tự lên kế hoạch

mua bán, đi chợ, nấu nướng, mua sắm vật dụng gia đình, sách vở bút mực cho các em. Khi chị

vào Nam rồi thì có chị Phương Trâm thay vai trò chị cả, chị Phương Trâm đi thì Hiền Trâm lo.

Nhà tôi sống như vậy, tất cả mọi người đều quan tâm đến nhau, đều sống vì mỗi người, nhưng

không ai xâm phạm đến tự do của ai”.

Bà cụ bảo: “Các con gái của tôi đều viết nhật ký, vợ chồng tôi khuyến khích chúng ghi chép lại

những việc đã làm trong ngày, cùng những suy nghĩ, cảm tưởng của mình, nhưng cả nhà không

ai đọc nhật ký của ai cả, dù chúng có được mở ra ngay trước mắt. Thấy Thùy nó buồn, cũng

nghe bạn bè nó nói phong thanh là chuyện tình yêu của nó không thành, nhưng vợ chồng chúng

tôi cũng không hỏi. Lúc nào con nó thấy cần nói thì nó sẽ nói”.

Khi được hỏi: “Các chị học được điều gì quan trọng nhất từ cha mẹ?”, các chị đều thống nhất:

tính lạc quan yêu đời, niềm tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Chị Hiền nói: “Cha tôi là

một chuyên gia giải phẫu, nhưng suốt từ khi theo kháng chiến đến khi về hưu, ông cụ vẫn chưa

được xếp vào diện “cán bộ bìa C” và chưa từng vào Đảng vì lý lịch “chưa rõ ràng”.

Còn mẹ tôi là “cảm tình Đảng” gần 30 năm, đến khi giải phóng miền Nam rồi, xác minh được lý

lịch rõ ràng mới được kết nạp Đảng. Tất cả chị em chúng tôi thi đại học đều đủ hoặc thừa điểm

72

đi nước ngoài nhưng không ai được đi – cũng vì lý lịch “chưa rõ ràng” – mà chị Thùy đã nhiều

lần buồn bã nhắc đến trong nhật ký. Nhưng cha mẹ chúng tôi đều không lấy đó làm bi quan, chán

nản hay sinh ra bất mãn.

Cha mẹ vẫn phấn đấu học tập, rèn luyện chuyên môn, làm thuốc, chữa bệnh cứu người và động

viên chúng tôi học hành. Ngôi nhà chúng tôi lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười, tối đến cả nhà quây

quần đàn hát. Cha mẹ đều hát rất hay, chị Thùy cũng hát rất hay. Chúng tôi vẫn sống như thế,

đến tận bây giờ”.

Ngn nến vn cháy mãi

Từ nhiều ngày nay, khi nhật ký của chị Thùy và số phận kỳ lạ của nó được báo chí và các

phương tiện thông tin liên tục nhắc tới, các đoàn khách liên tục gọi điện và đến thăm khiến cụ bà

Doãn Ngọc Trâm hơi mệt, nhưng cụ rất cảm động và tự hào.

Thật khó mà không xúc động khi bước vào ngôi nhà nhỏ ấy, ngồi giữa những con người bình dị

trong ngôi nhà ấy, chứng kiến những tình cảm mà họ dành cho nhau và cho cuộc đời này.

Kim Trâm nói: “Nhu cầu được yêu thương con người của chị Thùy lớn lắm vì từ nhỏ chị ấy đã

được sống giữa tình yêu của mọi người. Tôi không ngạc nhiên là trong nhật ký chị Thùy viết

nhiều về tình yêu đến thế, thứ tình yêu không phải của nam nữ, mà lớn hơn thế rất nhiều, tình

yêu thương của con người với nhau”.

Đọc nhật ký chị Thùy, càng thấy chị với những con người trong ngôi nhà này gắn với nhau, hòa

với nhau là một. Cụ bà đang có “âm mưu” góp 10 triệu đồng – số tiền dành dụm được nhờ dịch

sách y học của cụ suốt mấy năm qua – để đóng góp cho bệnh xá mang tên con gái. Cụ khăng

khăng: “Cả nhà có đóng góp riêng, các em gái góp riêng, các cháu góp riêng thì bà cũng phải

được góp phần bà chứ”.

Nguyễn Đặng Việt Anh đã góp số tiền giải thưởng của mình thì anh trai cậu – Nguyễn Đặng Hồ

Anh – cũng lặng lẽ đóng góp tháng lương thử việc đầu tiên của mình vào “bệnh viện bác Thùy”.

Các cậu sinh ra khi bác Thùy đã hi sinh rất lâu, nhưng chưa một ngày nào người bác ấy ra đi

khỏi ngôi nhà của các cậu.Từ khi Thùy Trâm vào Nam, cả đến lúc được tin chị hi sinh, cho đến

bây giờ năm nào cũng vậy, vào sinh nhật Thùy Trâm, cả nhà vẫn mua hoa, mua bánh gatô và

thắp nến cho “bác Thùy” . Những ngọn nến vẫn còn cháy mãi, như là Thùy Trâm chỉ vừa đi vắng

và sắp về. Như là tuổi 20 của người con gái ấy…

73

Bà Doãn Ngc Trâm (m bác sĩ Thùy Trâm)

 

 

“Báo chí, sách vở, bạn bè đồng đội quan tâm đến Thùy làm tôi càng nghĩ càng thương bao nhiêu

bà mẹ khác. Họ cũng có con đi chiến đấu như Thùy, cũng hi sinh như Thùy, nhưng không may

mắn để lại được chút tâm sự như Thùy. Có những bà mẹ đến giờ này vẫn chưa biết con mình

nằm lại ở đâu. Có những người rõ ràng biết con mình hi sinh rồi nhưng do sự thờ ơ, tắc trách

của những người làm chính sách mà đến bây giờ vẫn chưa được công nhận. Sao lại máy móc

cứng nhắc đòi hỏi bao nhiêu thứ giấy tờ thế? Các bà mẹ ngày xưa cho con ra trận có suy nghĩ

đòi hỏi nhiều thế đâu? Tôi cũng chỉ mong là nhân dịp này, khi báo chí và sách vở đang nói nhiều

về chuyện của Thùy thì những người làm chính sách cũng thấy có một chút xúc động và có trách

nhiệm hơn”.

Thông đip ca trái tim

TT – Thế là ròng rã nhiu ngày, trang báo Tuổi Trẻ gii thiu

câu chuyn v cun nht ký ca Đng Thùy Trâm đã tm

khép li. Câu chuyn ta như chuyn c tích y đã khơi dy

và thi bùng ngn la lý tưởng vn đã p sâu kín trong trái

tim ca tui tr VN.

Ngọn lửa từ trái tim của một thế hệ tuổi trẻ trong chiến tranh đã

ngời sáng mãi lý tưởng của thế hệ trẻ hôm nay đang gánh trên vai mình sự nghiệp cao cả mà thế

hệ đi trước đã trao lại.

Phải có con mắt tinh đời và một trái tim biết yêu thương sâu nặng mới thấy được “lửa” trong

cuốn nhật ký tình cờ tìm thấy trong đống tro tàn của chiến tranh để đưa ra lời khuyên “đừng đốt

cuốn sổ này.

Bản thân trong nó đã có lửa rồi!” (Nhật ký Đặng Thùy Trâm – tr.21). Đó là lời của một người

lính đứng bên kia trận tuyến của tác giả cuốn nhật ký, thượng sĩ Nguyễn Trung Hiếu. Và rồi lời

nhắn nhủ “các bạn trẻ, với điều bạn học được từ những gì cô ấy viết, hãy chiến đấu chống đói

nghèo với lý tưởng của bác sĩ Đặng Thùy Trâm bằng cách hi sinh những niềm vui tầm thường…

Hãy xem Tổ quốc các bạn cần gì trước khi tính toán đến nhu cầu của bản thân và nuôi dưỡng

tinh thần của bác sĩ Đặng Thùy Trâm” (Tuổi Trẻ ngày 3-8-2005), cũng từ một người đã từng là

lính Mỹ trên chiến trường, nơi Thùy Trâm đã ngã xuống, tiến sĩ Frederic Whitehurst, người đã

trân trọng giữ gìn cuốn nhật ký của Thùy Trâm trong suốt 35 năm để hôm nay chúng ta có may

mắn được đọc.

Càng hiểu hơn nhân cách và bản lĩnh của tác giả cuốn nhật ký khi biết về người mẹ của chị, cũng

như tấm lòng cao cả của con gái mình, cụ bà Doãn Ngọc Trâm “càng nghĩ càng thương bao

nhiêu bà mẹ khác. Họ cũng có con đi chiến đấu như Thùy, cũng hi sinh như Thùy, nhưng không

may mắn để lại được chút tâm sự như Thùy. Có những bà mẹ đến giờ này vẫn chưa biết con

mình nằm lại nơi đâu” (Tuổi Trẻ ngày 4-8-2005).

Và bên kia đại dương, nhạy cảm cũng với một trái tim người mẹ, mẹ của Frederic Whitehurst,

khi được con trai mình cho xem hai cuốn sổ nhật ký tìm được tại chiến trường VN xa xôi, hiểu

sâu sắc về con mình, bà đã khuyên Fred “hãy cẩn thận bởi vì hai cuốn sổ này có thể thiêu cháy

cuộc đời anh”. Mà quả vậy, “trái tim Fred luôn bị nung nấu vì ngọn lửa tỏa ra từ hai cuốn sổ nhỏ

75

ố vàng” (tr.23) của người con gái xa lạ đã chết trong ngọn lửa chiến tranh mà chính anh buộc

phải tham gia.

Đúng như lời của người chỉnh lý cuốn nhật ký, Đặng Kim Trâm thiết tha muốn nhìn vào mắt

người đã thấy được trong cuốn nhật ký của chị mình “có lửa”, tìm cách giữ gìn nhằm làm cho

ngọn lửa ấy cháy bùng lên trong trái tim mọi người để “nói với nhau rằng tiếng nói của tình yêu

và khát vọng hòa bình có thể vượt qua mọi chiến tuyến để đến với những trái tim tốt lành”

(tr.27). Cuốn nhật ký của một người con gái VN hi sinh cách đây 35 năm đã vượt xa ý định của

người viết, nó đã đảm đương được một sứ mệnh cao cả: “là một cây cầu, một con đường bắc qua

dòng sông chứa chất những vô tình, những cay đắng, những lòng tin lầm lạc” mà Robert

Whitehurst, anh trai của người lính Mỹ đã gìn giữ cuốn nhật ký, viết trong thư gửi đến mẹ của

Thùy Trâm (Tuổi Trẻ ngày 28-7-2005).

Ngọn lửa trong cuốn nhật ký ấy vẫn cháy sáng mãi mãi khát vọng sống mãnh liệt mà Thùy Trâm

đã viết bốn ngày trước khi hi sinh: “Mình sẽ trở về chắt chiu vun xới cho tổ ấm gia đình, mình sẽ

biết quí từng phút, từng giây hòa bình ấy bởi vì có sống ở đây mới hiểu hết giá trị của cuộc sống.

Ôi! Cuộc sống đổi bằng máu xương, tuổi trẻ của bao nhiêu người. Biết bao cuộc đời đã chấm dứt

để cho cuộc đời khác được tươi xanh” (tr.255).

Trong suy ngẫm, tôi cảm nhận được câu chuyện tưởng như chuyện cổ tích về số phận của cuốn

nhật ký Đặng Thùy Trâm là một thông điệp của lòng nhân ái, khát vọng hòa bình và ý nghĩa cao

đẹp của cuộc sống con người dù họ ở đâu trên quả đất này.

TƯƠNG LAI

76

Người gìn gi “cun nht ký có la” đã đến

VN

TT – Cui cùng thì ước nguyn ca tiến sĩ Frederic

Whitehurst đã thành s tht. Ngày 7-8, ông đã đt chân lên

đt nước ca tác gi “cun nht ký có la”, người tng là

“đi phương” ca ông cách đây 35 năm.

Buổi sáng ở sân bay Nội Bài thật bình yên. Rất nhiều hoa và

những khuôn mặt lấp lánh nụ cười…

“Con chào m!”

Tiếng gọi mẹ của Fred và Robert bắt nguồn từ một lá thư gia đình gửi cho Fred trước đây. Trong

đó chị Kim Trâm viết rằng “giờ đây chúng tôi đã coi Fred như người nhà rồi”. Fred và Robert vô

cùng cảm động và gọi bà Doãn Ngọc Trâm là mẹ từ đó.

Cuộc gặp gỡ giữa anh em Fred, Robert và gia đình bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm đã được định

sẵn từ lâu. Thời gian được sắp xếp sít sao đến từng phút. Nhưng cảm giác hồi hộp vẫn hiện diện

trong căn nhà chị Đặng Kim Trâm trong thời gian chờ đợi.

Bộ bàn ghế được thay mới. Một lọ sen trắng và một bình hồng thơm ngát ở hai góc phòng. Bà

Doãn Ngọc Trâm mặc bộ đồ màu lơ nhạt ngồi trên ghế bành, trong khi các cô con gái Kim Trâm,

Hiền Trâm, Phương Trâm và các cháu hối hả sắp xếp chỗ ngồi. “Đến rồi!” – Hồ Anh, con trai chị

Hiền Trâm, chạy từ ngoài ngõ vào thông báo.

Robert, anh trai của Fred, chào bằng tiếng Việt: “Con chào mẹ!”. Fred bước vào và nói: “Con đã

chờ đợi phút giây này từ lâu lắm rồi mẹ ơi!”. Bà Doãn Ngọc Trâm nở nụ cười hồn hậu, nắm tay

hai anh em.

Ngồi xuống ghế, bà nói: “Hôm nay tôi mặc bộ quần áo màu xanh hòa bình mà Thùy Trâm vẫn ao

ước, vẫn khát vọng hòa bình cho toàn thế giới”. Cháu ngoại Việt Anh nhanh nhảu phiên dịch hộ

bà. Fred gật gù: “Vâng, con hiểu”.

Anh em Fred mở hành lý đem theo, tất cả đều là quà tặng dành cho gia đình: những cuốn sách

ảnh về nước Mỹ, hai lọ xirô, vài lọ mứt, đồ chơi cho Nghĩa – con trai chị Kim Trâm. Hai album

ảnh lớn của gia đình Fred và Robert được mở ra cho mọi người cùng xem.

77

Bà Doãn Ngọc Trâm bật cười trước ảnh Fred mũm mĩm hồi mới sinh. Tiếng cười lan tỏa khắp

căn phòng theo từng bàn tay lật giở cuốn album của bà.

Phần còn lại của cuộc trò chuyện diễn ra tại nhà chị Hiền Trâm cách đó không xa. Bên cạnh

những câu chuyện về ngành học của Việt Anh, của Hồ Anh, nghề nghiệp và gia đình của Fred,

câu chuyện những bông loa kèn là đề tài sôi nổi nhất.

Cả nhà cùng xem catalogue, bưu ảnh hoa, trao đổi về kinh

nghiệm trồng cây. Fred nói loa kèn là loài hoa ưa thích của hai

mẹ con Fred, rồi mở túi lấy ra vài cây, nói là để tặng riêng cho bà

Doãn Ngọc Trâm trồng thử.

Fred trìu mến nhìn bà và nói: “Mẹ cũng thích hoa huệ tây phải

không? Mẹ con cũng vậy. Mẹ con yêu hoa huệ tây vì sức sống

mãnh liệt của nó”.

Vong linh ca Thùy dn đường cho chúng tôi

Kim Trâm đặt vào tay Fred và Robert cuốn sách Nhật ký Đặng

Thùy Trâm có đề dòng chữ của bà Doãn Ngọc Trâm: “Tặng

Fred, người con mới của gia đình, với trái tim người mẹ”. Cả nhà

cùng nhìn vào những tấm ảnh của Thùy Trâm trong sách. Và câu

chuyện về cuốn nhật ký lại ùa về. Robert nói: “Có một điều tôi tin chắc, vong linh của chị Thùy

đã chỉ đường cho chúng tôi tìm thấy gia đình chị. Cuộc gặp này không phải sự may mắn ngẫu

nhiên mà là cuộc gặp của tâm linh”.

“Cô biết không – Robert nói – Có rất nhiều bạn bè của chúng tôi không tin cuốn nhật ký là có

thật. Họ đọc và nói: câu chuyện rất hay, nhưng có vẻ giống tiểu thuyết quá. Họ nghi ngờ. Chỉ có

tôi và Fred biết sự thật. Tôi đã đọc đi đọc lại rất nhiều lần bản dịch trong hàng chục ngày liền

chỉ để tìm ra một manh mối khả dĩ. Fred có lúc chán nản, nhưng tôi luôn hi vọng. Dường như có

một ai đó thì thầm vào tai tôi, mách bảo tôi phải làm thế này, thế kia.

Tôi đã sao ra 24 bản copy đĩa CD cuốn nhật ký và phân phát tại cuộc hội thảo ở Texas. Ted (Ted

Engelmann: nhà nhiếp ảnh, cựu chiến binh Mỹ tại VN, từng đến VN nhiều lần để thực hiện một

dự án về ảnh chiến tranh – NV) là một người trong số đó.

78

Tôi đã khuyến khích Fred đến với cuộc hội thảo để nói về cuốn nhật ký và bày tỏ lòng mong

muốn tìm lại gia đình. Khi tiễn Fred lên máy bay, tôi nói: Chúng ta sẽ có được kết quả sau một

tháng nữa. Và rồi cô có tin được không, 33 ngày sau tôi nhận được điện của Ted nói rằng đã tìm

thấy gia đình Thùy Trâm. Chúng tôi hạnh phúc không tưởng tượng nổi”.

Robert quay sang Fred, nhận thấy Fred đang say sưa nói chuyện với chị Kim Trâm, anh hạ

giọng: “Còn có rất nhiều điều mà chúng tôi muốn tìm hiểu. Chúng tôi đã đọc nhật ký của chị

Thùy hàng trăm lần rồi, những câu chuyện về địa danh, về những con người mà chị kể sinh động,

giàu hình ảnh và ý nghĩa đến nỗi chúng tôi có cảm giác như bị thôi thúc khám phá về đất nước

của chị nhiều hơn, nhiều hơn nữa…

Chúng tôi muốn đến Quảng Ngãi để thăm lại nơi chị từng làm việc, gặp những người chị từng

gặp, càng nhiều càng tốt…”.

UYÊN LY

Chị Kim Trâm nói đã đến lúc thắp hương cho vong linh những thành viên của gia đình. Họ kính

cẩn cùng bước lên từng bậc thang. Chếch phía trái là bức chân dung của Thùy Trâm cười rạng

rỡ.

Bức ảnh của Thùy Trâm trên bàn thờ, một khuôn mặt sáng và tự tin hướng xuống đoàn người.

Fred cao vượt hẳn lên, tay chắp trước bụng, chạm khẽ vào vai bà Doãn Ngọc Trâm rồi đắm chìm

trong một khoảng không nào đó.

Chị Phương Trâm nhẹ nhàng hỏi: “Fred sinh năm 1947 phải không? Tháng mấy?”. Fred chợt

tỉnh, trả lời: “Tháng 11”. “Ồ thế thì cùng tháng, cùng năm sinh với tôi rồi. Thế còn ngày sinh?”.

Fred nói sinh ngày 22. Cả nhà ồ lên: “Thế thì Fred sinh trước Phương một ngày, Phương phải gọi

Fred bằng anh”.

79

Fred Whitehurst: “Tôi mun c thế gii biết đến

Đng Thùy Trâm”

Đến Hà Ni sáng 7-8, Fred Whitehurst – người cu binh M đã gi di vt ca các lit sĩ Đng Thùy Trâm – dường như phi c gng lm đ không bt khóc trước s đón tiếp ca gia đình các lit sĩ và bt ng nht là nhng cu phóng viên chiến trường thuc Tiu ban Đin nh Quân khu 5 trước đây.

Hoa, những bàn tay nắm trong tay và những lời thăm hỏi ân cần

khiến Fred có lúc không nói nên lời. Fred hỏi thăm “các em gái

Trâm và mẹ Trâm của tôi”. Rồi ông được giới thiệu với những

phóng viên chiến trường năm xưa, những người đã từng ở bên

kia chiến tuyến với ông.

Fred nói với chúng tôi ngay khi vừa xuống máy bay: “Tôi muốn khóc… bạn còn quá trẻ, bạn

không hiểu được đâu…” – sự xúc động khiến Fred nghẹn ngào không thể tiếp tục. Gần một tiếng

sau, khi về tới Hà Nội, cuộc trò chuyện của chúng tôi với Fred vẫn đôi lúc bị gián đoạn bởi cảm

xúc và ký ức ùa về trong Fred:

“Trong những ngày sắp tới ở VN, tôi định thăm gia đình chị Trâm, chị Hiên, sẽ đi Đức Phổ,

Quảng Ngãi – nơi tôi đã ở trong chiến tranh. Tôi cũng muốn nói với mọi người về cuốn nhật ký,

về cuộc đời của Đặng Thùy Trâm. Tôi tin rằng Trâm là anh hùng không chỉ của VN mà của cả

thế giới. Chị Trâm là người tận tâm, một người tốt, là tấm gương để bất kỳ ai trên thế giới này có

thể noi theo. Tôi muốn câu chuyện về chị được kể lại cho mọi người”.

* Ông s tr li Ph Cường – nơi ông nht được cun nht ký. Ông nghĩ v chuyến đi đó?

- Tôi rất xúc động. Cũng như những người lính ở đây, tôi đã từng chứng kiến sự khốc liệt của

chiến tranh. Tôi muốn nhìn lại nơi Trâm đã hy sinh. Tôi cũng muốn nhìn thấy Đức Phổ. Cũng

như ở thành phố quê hương tôi, Đức Phổ là một làng nhỏ của những người dân không màng

vàng bạc châu báu, họ chỉ mong muốn tự do, chỉ mong muốn được quan tâm đến gia đình mình.

Tôi không muốn nhìn Đức Phổ như là một chiến trường mà là Đức Phổ bây giờ, với những gì đã

diễn ra từ bấy tới nay.

* Ph Cường trong ký c ông như thế nào nh?

Đăng trong Blogroll | Leave a Comment »

Nhật ký Đặng Thùy Trâm (phần 7)

Đăng bởi isoul on Tháng tám 4, 2007

vận động cả việc “đi tiêu nhớ mang theo cây cuốc” nữa. Ở rừng, chị vận động được một buôn

người dân tộc biết vào trạm xá khám thai, sinh nở.

Không chỉ để lại tình thương cho Đức Phổ, chị còn để lại những vần thơ nằm mãi trong lòng

người ở đây. Anh Trần Văn Trường, một trong những người thân thiết của chị Trâm, ở Quy

Thiện, Phổ Hiệp, hiện là phó chủ tịch Ủy ban MTTQ VN tỉnh Quảng Ngãi, đã chép gửi cho

chúng tôi một bài thơ của chị.

Chúng tôi hỏi: “Anh ghi ở đâu mà còn?”. Anh chỉ vào đầu, nói: “Trong đầu chớ đâu? Còn, còn

mãi”. Đó là bài thơ khi một lần chị rời Phổ Hiệp đi công tác về bắc Quảng Ngãi đã viết gửi tặng

các em thiếu niên ở xã: “…Chị đi xa cửa xa nhà / Đến đây chị đã coi là quê hương / Nhớ sao

những buổi giặc càn / Tiếng la, tiếng mõ ầm vang cả trời…”.

Ở Phổ Cường có món cua đồng rán, cua đồng lăn mắm rất ngon, bà con thường ăn. Thường ăn,

ấy vậy mà có người mãi đến giờ cứ mỗi lần ăn cua đồng lại nhớ đến chị Trâm, nhớ đến bài thơ

chị Trâm để lại: “Ninh, em có nhớ chị không? / Chị nhớ em mãi cua đồng rán thơm / Mỗi lần tới

bữa ăn cơm / Chị lại thầm nhớ mùi thơm cua đồng…”.

Ba mươi lăm năm, nằm trong lòng đất lạnh, dĩ nhiên chị không còn “tới bữa ăn cơm” nữa, không

còn “thầm nhớ mùi thơm” nữa, nhưng chị Ninh (Tạ Thị Ninh) thì vẫn nhớ chị, mỗi lần tới bữa

cơm có món cua đồng. Có đêm, chị Ninh ra ngồi ở đầu hè nhìn ra chỗ chuồng vịt, nơi ngày xưa

có căn hầm chị Trâm ở, rồi nhẩm đọc bài thơ và không cầm được nước mắt…

Trang nhật ký cuối cùng của BS Đặng Thùy Trâm ghi ngày 20-6-1970. Đó là ngày kinh

khủng: trạm xá bị bom phá tan hoang chỉ còn lại tám người, năm thương binh nặng và ba

phụ nữ. “Cuối cùng cũng phải hai người đi. Chị Lãnh và Xâng ra đi…”. Như vậy chỉ còn

mình chị Trâm và năm thương binh. Đến ngày 22-6-1970 thì chị hi sinh trên đường… Điều gì

đã đến với chị trong ngày, đêm 21-6? PV Tui Tr đã đi tìm…

HÀNG CHC NGUYÊN – DUY THÔNG

61

Ngày 21-6 ca ch Trâm…

TT – Trang nht ký cui cùng ca ch Trâm ghi

ngày 20-6-1970. Theo báo cáo quân s ca tiu

đoàn 4, sư đoàn b binh 21 ca M trong thi kỳ

ch Trâm hot đng Đc Ph (Qung Ngãi) thì

ch Trâm hi sinh vào lúc 17g20 ngày 22-6-1970.

Chị Đặng Kim Trâm, em chị Trâm, cũng viết: “Nhật

ký chấm dứt ở ngày 20-6-1970. Hai ngày sau, ngày 22-

6-1970, chị tôi hi sinh. Mấy tháng sau gia đình tôi mới

biết tin dữ…”. Vậy ngày 21-6 của chị Trâm ra sao?

Người duy nhất chứng kiến cái chết của chị Trâm là chị Nguyễn Thị Kim Liên, hiện ở thị xã

Quảng Ngãi. Năm 1970 chị Liên 20 tuổi, là bộ đội thuộc huyện đội Đức Phổ, được đưa qua trạm

xá học. Chị vừa phục vụ bệnh nhân vừa học được vài ba tháng thì sự việc đau đớn ấy diễn ra…

Ngày 25-7 vừa qua, chúng tôi đến thăm chị và chị đã kể với chúng tôi về trường hợp chị Trâm bị

Mỹ sát hại. Hôm ấy, ở Phổ Cường cũng báo lên là trạm xá bị lộ, phải dời. Buổi sáng hôm đó, từ

trạm xá chị Trâm và hai anh bộ đội, cùng là học viên của trạm xá, vượt qua một hòn núi đến địa

điểm mới để chuẩn bị dời trạm xá.

Ở đó đã có anh Đạt, phụ trách trạm xá, đến trước. Ba anh em (anh Đạt, chị Liên và chị Trâm)

ngồi bàn xong công việc, lấy một hộp sữa đốt lên cùng ăn. Ăn xong, khoảng 2 giờ chiều, chị và

chị Trâm theo đường rừng trở về trạm xá. Chị Trâm đi trước, vừa đi vừa kể chuyện. Khi lên con

dốc, ra đường mòn thì hai chị gặp Mỹ. Thấy tên Mỹ đen rất gần, chị Liên vừa kêu lên: “Chết,

Mỹ, chị Hai ơi!” vừa nhảy lăn xuống vực.

Súng nổ, chị băng rừng tìm về chỗ anh Đạt, quần áo rách tơi tả. Anh Đạt dẫn chị ra chỗ bìa rừng

nghe ngóng tình hình. Mấy hôm sau tìm trở lại nơi ấy, chị thấy chiếc áo đen của chị Trâm bị

chúng xé đôi đem treo vất vưởng trên cây (sau đó chị Liên lấy chiếc áo ấy may lại mặc mãi, giữ

trên 20 năm đến khi quá cũ chị mới bỏ).

Nhiều bạn đọc đọc kỹ nhật ký của chị Trâm, nhất là những ngày cuối cùng mà Tuổi Trẻ trích

đăng trong số báo ra ngày thứ ba, ngày 26-7-2005, sau khi biết thông tin trên đã nêu thắc mắc

với chúng tôi: Nhật ký của chị cho thấy đó là những ngày căng thẳng tột độ, bom thả, rocket

62

phóng xuống, trạm xá phải di chuyển. “Số lực lượng khỏe mạnh đã đi hết ”, “mọi người gồng

gánh ra đi”, “trạm xá chỉ còn lại năm thương binh nặng cố định và bốn chị em nữ…”.

Rồi tiếp theo là một chính trị viên ra đi. Ba chị còn lại, ngoài lúc ăn cơm mỗi người ngồi một góc

để theo dõi phát hiện địch. Mọi người ra đi hẹn sẽ trở về gấp để đón các chị và năm thương binh,

nhưng rồi chín ngày trôi qua không thấy ai trở lại. Đến ngày thứ 10 thì “gạo chỉ còn ăn một bữa,

chiều nữa là hết”. Không thể ngồi nhìn thương binh đói được, các chị bàn bạc phải đi. Cuối

cùng, “chị Lãnh và Xăng ra đi”. Chị Trâm nhìn theo hai chị lội qua suối mà “nước mắt mình

rưng rưng”…

Như vậy, đến chiều 20-6 chỉ còn mỗi mình chị Trâm cùng năm thương

binh ở trạm xá. Rồi ngày 21 diễn ra thế nào mà đến ngày 22-6 thì chị

Liên ở trạm xá cùng với chị Trâm và hai bộ đội đi đến địa điểm mới?

Trước đó chị Liên ở đâu? Hai anh bộ đội ở đâu? Chúng tôi đem thắc

mắc này hỏi chị Liên may ra chị có nhớ thêm gì không, nhưng chị vẫn

khẳng định là hôm ấy chị vẫn ở trạm xá và chị cùng với chị Trâm từ

trạm xá đi, trạm xá chưa dời, chỉ mới đi tìm địa điểm để dời…

Chị Lãnh đã hi sinh nhưng chị Xăng vẫn còn. Liên hệ với rất nhiều

người, cuối cùng chúng tôi đã gặp được chị Xăng. Té ra chị đã ở tuổi bà,

75 tuổi. Hồi ấy bà làm chị nuôi (cấp dưỡng), đúng tên là Lê Thị Xâng,

người Phổ Minh, hiện ở thị xã Quảng Ngãi. Nói đến chị Trâm, bà khóc.

Trước đó xem tivi, thấy ảnh chị Trâm, bà cũng khóc. Chúng tôi cố đọc

đi đọc lại nhật ký của chị để bà nhớ lại rõ ràng những ngày tháng ấy,

nhưng thật tiếc bà không nhớ cụ thể.

Hai hôm sau, bỗng tôi nhận được điện thoại của bà. Bà mừng rỡ báo:

“Cậu gì nhà báo đó hả? Đến ngay nhà tôi đi, tôi nhớ ra rồi, hôm đó…”.

Chúng tôi vội vã đến gặp bà ngay. “Ngủ không được, cậu à – bà nói,

Nghĩ qua nghĩ lại miết. Nghĩ tới đâu thương cô Trâm tới đó…”. Nói đến

chị Trâm, bà lại khóc. Đợi cảm xúc bà lắng xuống, tôi gợi lại: “Thế

chiều hôm đó cô đi với chị Lãnh…”. Bà gật gật đầu: “Nhớ lại rồi, mấy

ngày đó khủng khiếp lắm. Ba chị em bàn qua tính lại mãi, phải đi kiếm

rau củ gì ăn, cho thương binh ăn…”.

Cuối cùng, ba chị em quyết định: chị Xâng rành địa bàn, dẫn chị Lãnh cùng đi. Chị Trâm phải ở

lại lo cho thương binh. Buổi chiều, chị Lãnh, chị Xâng lội qua dòng suối ra đi, như chị Trâm ghi

63

trong nhật ký, chị đứng nhìn theo nước mắt rưng rưng. “Phần tui và chị Lãnh cũng vậy, nhìn cổ ở

lại, hai chị em không ai cầm được nước mắt…” – bà Xâng kể.

Biết đường, bà Xâng dẫn chị Lãnh băng rừng tìm đến một buôn người dân tộc, gặp rẫy mì của

“ông gì đó, quên tên rồi, thỉnh thoảng ông có đến trạm xá ”. Ổng hỏi: “Mỹ đang đánh mà “con

yên” đi đâu?”. Biết chút ít tiếng dân tộc, bà Xâng nói: “Bót ngót dí dá…” (đói quá…). Nghe vậy,

ổng nhổ cho mấy bụi củ mì. Đến tối, bom đạn ngơi dần, chị Xâng và chị Lãnh trở về. Ba chị em

mừng quá, lại khóc. Đêm ấy, dưới một nóc hầm, che mấy tấm nilông chị Xâng nấu một nồi khoai

mì.“Rồi qua ngày hôm sau, ngày 21?” – chúng tôi hỏi. Bà Xâng nhíu trán: “Không nhớ rõ lắm

nhưng hình như hôm sau tụi nó rút, nhiều người trở về…”.

Chúng tôi trở lại nhà chị Liên, kể chị nghe những điều bà Xâng đã kể và đưa những dòng nhật ký

của chị Trâm cho chị đọc lại. Trầm ngâm, chị nói: “Qua nhiều trận ác liệt quá, không thể nhớ hết

được. Tôi chỉ nhớ chính xác từ lúc tôi, chị Trâm và anh Đạt nướng hộp sữa ăn rồi đi, rồi chị

Trâm bị bắn… Ừ, hình như trước hôm đó tôi và mấy anh về lại trạm xá”.

Như vậy có thể ngày 21 tình hình im ắng, thông đường, số người đưa anh em thương binh nhẹ đi

trước mới trở về trạm xá được, trong đó có hai anh em bộ đội, chị Liên, anh Kỳ.

Anh Kỳ, một y tá rất giỏi, ở trạm xá lâu năm. Mọi chuyện mổ xẻ đều do một tay anh. Chị Trâm

là bác sĩ chuyên khoa mắt nên lúc mới về việc “cưa, cắt” chị vẫn giao cho anh. Vài năm sau ngày

chị Trâm mất, anh rời trạm xá. Dần dần người ta ít nhắc đến anh. Những ngày ở Quảng Ngãi

chúng tôi đã tìm được chỗ ở của anh và liên lạc qua điện thoại (anh vào lập nghiệp ở Võ Su,

Tánh Linh, Bình Thuận từ nhiều năm trước).

Sau khi chúng tôi nhắc đi nhắc lại những ngày cuối cùng của chị Trâm ở trạm xá, ông nói: “Trạm

xá bị đánh liên tục, bị dồn liên tục, thật tình không thể nhớ hết. Nhưng hồi chị Trâm chết, ờ ờ,

chúng tôi dời đi rồi về…, có buổi họp phân công chị Trâm về Phú Cường liên hệ với du kích lên

chuyển thương binh nặng…”.

Hầu như những người từng làm ở trạm xá cùng thời với chị Trâm hiện còn sống, chúng tôi đã

liên hệ hết. Nhưng những người kỳ cựu như anh Khương (hiện ở Sa Huỳnh, Quảng Ngãi), những

ngày tháng sáu ấy lại đi học; như anh Thông (hiện ở thị trấn Đức Phổ, hồi ấy thường được gọi là

Tho) khi ấy lại về dân y tỉnh cõng thuốc, chị Phượng đã chuyển về dân y tỉnh trước đó..

35 năm đi qua, những ngày ấy ngày nào cũng là ngày căng thẳng, chống chọi với cái sống, cái

chết, cái thiếu, cái đói, làm sao ai có thể nhớ trọn vẹn? Biết thế nhưng khi đi tìm ngày 21-6-1970,

64

ngày cuối cùng của chị Trâm, không được ai kể lại, vẽ lại hình ảnh chị chúng tôi thấy tiếc và

buồn. Gom hết các lời kể, chúng tôi chỉ có thể hình dung: ngày 21, những người đưa thương binh

nhẹ ra đi trước đó đã trở về. Chị Trâm được đưa lên địa điểm mới để xem, lo chuyện chuyển

thương binh nặng, và khi ra về thì…

Không được kể cụ thể nhưng chắc ai cũng biết: 10 ngày chị đã ở giữa một vùng chết để lo, để

cùng chết, cùng sống với năm người thương binh nặng, cũng như từ khi đặt chân đến Đức Phổ

chị đã từng “lo”, đã từng “cùng” như thế nên ngày cuối cùng của chị cũng vậy. Chị đi đâu, chị

đến đâu và hi sinh, chắc chắn cũng là vì những người thương binh… Chị là thế!

Viên sĩ quan quân báo giờ đã là tiến sĩ Frederic Whitehurst vừa gửi những dòng tâm sự của

mình đến Tui Tr. Từng là đối phương, nhưng trong ký ức về Đặng Thùy Trâm của người

lính Mỹ Frederic luôn tự hỏi tại sao chúng ta tàn sát lẫn nhau trong khi chúng ta đều có ước

mơ, có gia đình, chúng ta khóc, chúng ta yêu thương? Tại sao chúng ta không thể trở thành

anh em, bạn bè?…

HÀNG CHC NGUYÊN – VÕ QUÍ CU – TRÀ NINH

65

Tôi đã mang theo sut 35 năm…

 

(Thư của tiến sĩ FREDERIC WHITEHURST gửi riêng cho

Tui Tr)

TT – Các bạn trẻ thân mến! Ngày nay chúng ta có tm nhìn

hn hp, và dường như nhng t ng ca Thùy dy cho

chúng ta thy rng nhng tin nghi, vui thú ca ngày hôm

nay không phi t nhiên mà có, đó là thành qu t s hi sinh

to ln ca hàng bao nhiêu người.

Một điều vô cùng quan trọng là không chỉ có thế hệ trẻ ở VN mà

thế hệ trẻ thế giới cũng cần phải được đọc câu chuyện của Thùy

Trâm.

Những từ ngữ của Thùy còn nói với thế giới rằng chúng ta đều giống nhau, chúng ta có ước mơ,

có gia đình, chúng ta có những nỗi sợ hãi, chúng ta khóc, chúng ta yêu thương. Thùy Trâm sẽ

khiến chúng ta tự hỏi tại sao chúng ta tàn sát lẫn nhau trong khi chúng ta giống nhau đến thế.

Việc Mỹ xâm lược VN thì được lợi lộc gì? Sẽ mất gì nếu đơn giản chúng ta không tham gia

chiến tranh? Tại sao người phải giết người thay vì có thể trở thành anh em nếu như đó không

phải là vì chiến tranh?

Thùy khiến chúng ta phải suy nghĩ. Gia đình Thùy đã chấp nhận tôi, một người đã từng là kẻ thù.

Việc làm này cho thấy điều gì về lòng tốt của gia đình Thùy Trâm và những con người VN?

Thùy khiến chúng tôi phải suy nghĩ.

Hỡi các bạn trẻ!

Cách đây rất lâu rồi, tôi rời đại học để tham gia quân ngũ, không phải vì tôi theo chủ nghĩa yêu

nước, mà tôi muốn tìm lối thoát cho việc học đã trở thành gánh nặng. Tôi xung phong tham gia

chiến đấu tại VN. Tôi vẫn còn nhớ lần đầu tiên tôi nhận ra sai lầm của quyết định xuất phát từ

cách suy nghĩ giản đơn ấy khi đang tập xuyên những lưỡi lê vào lốp ôtô, được huấn luyện để hò

hét và giết chóc bằng vũ lực. Cảm nhận rằng tôi sẽ tước đoạt cuộc sống của ai đó khiến tôi sợ

hãi.

Và rồi tôi đã tìm kiếm những lý do khiến tôi có thể sẵn sàng chiến đấu. Tôi lắng nghe những câu

chuyện tuyên truyền về tội ác của chủ nghĩa cộng sản, về lý thuyết đôminô nói rằng toàn bộ châu

66

Á sẽ rơi vào tay cộng sản nếu VN bị họ thống trị, về nhu cầu tài nguyên thiên nhiên, về những

đồng đội đã chết. Tôi đã có được rất nhiều lý do để khỏa lấp. Nhưng không lý do nào thật sự

thuyết phục được tôi. Tôi bắn vào người khác vì họ bắn vào tôi. Tôi hủy hoại cuộc sống vì mạng

sống của tôi bị đe dọa. Tôi không bao giờ ngừng hỏi tại sao và không bao giờ tìm được câu trả

lời thích đáng.

Điều tôi đã tìm được là mảnh đất đẹp đẽ chưa từng thấy. Một mảnh đất khiến bạn phải hụt hơi,

phải chùng gối, tác động lên toàn bộ giác quan của con người, giống như một giấc mơ rực sáng

về thiên đường. Một mảnh đất đầy ắp những con người hiền lành tìm thấy niềm vui ở những điều

giản dị nhất, nhưng cũng sẵn sàng chiến đấu bạo liệt để bảo vệ những gì đã thuộc về họ.

Điều tôi tìm thấy hôm nay là một mảnh đất đã và đang là nơi cư ngụ của sự tha thứ cho những

cuộc tàn sát trong quá khứ mà đến nay vẫn còn gây ảnh hưởng. Đó là bom mìn giết chết bao trẻ

em khi chúng đi bộ qua những cánh đồng, và những chứng bệnh kéo dài do chất độc da cam.

Điều tôi tìm thấy mạnh mẽ đến nỗi đến tận hôm nay tôi vẫn còn nhớ rõ những ngôi làng nhỏ như

Nga Mân và Nhơn Phước ở huyện Đức Phổ như thể hôm qua tôi vẫn còn

ở đó, ở nhà của tôi.

Và như vậy, tuổi trẻ ngày hôm nay sẽ học được gì từ cuốn nhật ký của

một nữ anh hùng, bác sĩ Đặng Thùy Trâm, kẻ thù của tôi từ nhiều năm

trước, người có cuốn nhật ký tôi đã mang theo suốt 35 năm nay, hi vọng

một ngày nào đó sẽ trả nó về với gia đình và đất nước của cô?

Thời bây giờ là của những thú vui, của những đồ chơi, của ôtô, tiếng ồn,

giao thông tắc nghẽn, khói tràn ngập thành phố, sự mất phương hướng,

sự hối tiếc về cái giá của tự do đến từ các nước phương Tây.

Hãy đọc câu chữ của Thùy Trâm để hiểu được sự hi sinh đến tận cùng vì

Tổ quốc của một nữ anh hùng, để đánh giá đúng đắn về giá trị của những đồ chơi và ôtô, để trở

lại với cách sống của Thùy Trâm, một cách nhìn vì Tổ quốc của mình, tôn trọng gia đình, khao

khát được giúp đỡ một ai đó, dù có phải trả giá bằng mạng sống.

Thùy nói với các bạn rằng cô ấy là một cô gái bình thường với rất nhiều nỗi sợ hãi cũng như tất

cả chúng ta, cũng ham thích những điều chúng ta ham thích. Nhưng Thùy cũng nói với các bạn

rằng còn có một điều gì đó còn quan trọng hơn cả cuộc sống của cô ấy khiến cô ấy sẵn sàng hi

sinh khi cần thiết. Gần đây, tôi đọc trên một tờ báo rằng tướng Giáp có nói thách thức hiện tại

của VN không phải là sự xâm lược từ bên ngoài mà chính là sự đói nghèo.

67

Các bạn trẻ, với điều bạn học được từ những gì cô ấy viết, hãy chiến đấu chống đói nghèo với

lý tưởng của bác sĩ Đặng Thùy Trâm, bằng cách hi sinh những niềm vui tầm thường. Hãy

chiến đấu cho những người đồng hương với lòng nhiệt huyết của một người lính giải phóng

quân, giống như bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Hãy xem Tổ quốc các bạn cần gì trước khi tính

toán đến nhu cầu của bản thân và nuôi dưỡng tinh thần của bác sĩ Đặng Thùy Trâm.

Và gửi tới tất cả những người có thể cho rằng những dòng chữ này là lố bịch, vô nghĩa của một

người lính cổ xưa không còn hữu dụng nữa, tôi đề nghị các bạn hãy cứ đọc nhật ký của Đặng

Thùy Trâm, và cuộc sống của bạn sẽ thay đổi mãi mãi. Cuộc sống của tôi đã như vậy rồi.

FREDERIC WHITEHURST

Người con gái ấy không tự nhiên sinh ra đã là anh hùng. Trong ngôi nhà mà chị đã chào đời,

trong ánh mắt của người mẹ đã sinh ra và nuôi dạy chị, trong ký ức của những chị em gái,

Thùy Trâm đã có một tuổi thơ tuyệt vời. Bất chấp những khó khăn và đạn bom thời chiến, gia

đình bé nhỏ ấy đã tạo dựng cho thế hệ sau một người anh hùng thật sự từ những chuyện giản

dị nhất, hằng ngày, hằng tháng. Trước khi tạm biệt Thùy Trâm và những trang nhật ký của

chị, mời bạn đọc gặp lại người mẹ già và những người thân của nữ bác sĩ, những người mà

với họ, Thùy Trâm chỉ như là người đi vắng, vừa hôm qua.

Ngày 4-5-2005,

Trích thư Frederic gửi Hiền Trâm và Hồ (em gái và em rể của chị Thùy Trâm)

Đây đúng là mt chuyn c tích…

Đây đúng là một chuyện cổ tích. Hằng ngày tôi làm nhiệm vụ luật sư tại tòa, nhưng từ thứ hai

vừa rồi tôi không thể nghĩ đến điều gì khác ngoài Thùy Trâm. Tôi phải lặng lẽ nghĩ bởi vì mặc

dù tìm thấy gia đình Đặng của tôi là một niềm vui to lớn nhưng trong tim tôi có cả nỗi buồn trĩu

nặng vì Thùy Trâm đã mất đi. Và vì tôi đã bắt đầu già nên nước mắt rất dễ tuôn trào và điều tôi

khóc ở tòa là rất không thích hợp.

Vì thế suốt ngày tôi lặng lẽ nghĩ về Thùy. Trong những năm ấy cuốn nhật ký của Thùy Trâm trải

qua một cuộc chu du chắc các bạn sẽ thấy khá thú vị. Hồi ở VN tôi luôn giữ hai cuốn nhật ký bên

mình. Trước khi rời VN về Mỹ tôi đã đưa nó cho một người bạn ở cùng đơn vị hồi ở Đức Phổ.

Anh ấy lấy vợ người Việt và tôi nhờ chị dịch hộ ra tiếng Anh.

68

Khi tôi về tới nhà anh ấy gửi cho tôi bản dịch và hỏi tôi có muốn nhận lại cuốn nhật ký không.

Tôi cảm thấy có lẽ để anh ấy giữ thì tốt hơn vì anh ấy là luật sư. Thời gian trôi qua. Năm 1982

tôi học xong đại học và vào làm việc cho FBI. Cả tôi cùng anh tôi đều đọc bản dịch cuốn nhật

ký. Nhưng làm thế nào để tìm được gia đình Thùy Trâm? Chúng tôi không biết.

Việc tôi vào làm việc cho FBI khiến tôi phải ngừng tìm kiếm mất mười năm. Tôi đã hỏi và tìm

kiếm thông tin, nhưng thời gian sau chiến tranh ở VN gần như người ta không thể tìm được ai.

Tôi biết Hà Nội đã bị ném bom và sợ rằng gia đình Thùy Trâm chết hết rồi. Năm 1992, tôi sống

ở Washington.

Có một nhà báo viết cho tờ Bưu Điện Washington đã viết một bài báo tên là “Người xa lạ giữa

quê hương xa lạ”. Hồi nhỏ anh ấy sống ở Hà Nội và khi trở về anh thấy tuổi thơ của mình đã

hoàn toàn mất đi. Tôi liên lạc với anh ta, anh ta nói rằng có thể gia đình Thùy Trâm đã chết trong

chiến tranh. Tuy nhiên tôi và anh Robert thấy đồng bào của Thùy Trâm cần phải biết chị là một

anh hùng. Robert và tôi nói với nhau chuyện này trong bao năm.

Chúng tôi quyết định nếu hai cuốn nhật ký đã được dịch sang tiếng Anh thì cũng có thể xuất bản

thành sách để cả thế giới sẽ đọc nó, vậy là chúng tôi cũng hoàn thành nhiệm vụ. Vì thế tôi gọi

điện cho người bạn đã dịch hộ cuốn nhật ký, nhưng anh trả lời hình như đã gửi trả lại cho tôi từ

lâu. Tôi tin anh ấy và đã lục tìm khắp nơi rất lâu nhưng không tìm thấy hai cuốn nhật ký. Vì thế

tôi nghĩ có thể trong bao lần vợ chồng tôi chuyển nhà khắp nước quyển nhật ký đã bị thất lạc.

Thế rồi cách đây vài năm người bạn đó gọi điện báo tin rằng trong khi lục lọi đống hồ sơ luật lưu

trữ từ năm 1966 anh ấy tìm thấy hai cuốn nhật ký. Chúng vẫn nằm nguyên trong cái phong bì mà

tôi đã gửi cho anh. Anh ấy hỏi tôi có muốn lấy lại không. Tôi trả lời tôi rất muốn lấy lại, nhưng

xin anh đừng gửi bằng đường bưu điện bởi vì có thể bị thất lạc mà chúng thì vô cùng quí giá.

Vậy là tôi bay đi California để tự mình nhận hai cuốn nhật ký. Lúc đó tôi đã có máy tính và máy

quét.

Tôi bèn quét hai cuốn nhật ký cùng những bức ảnh và gửi bản quét cho Robert để anh ấy dịch

lại. Mấy năm nay Robert vẫn dịch hai cuốn nhật ký. Sau đó Robert tìm thấy trên một trang ở cuối

cuốn sổ tên và địa chỉ cha mẹ cô (hoặc chúng tôi đoán thế). Mấy năm sau này một người bạn của

chúng tôi đã liên lạc được với gia đình BS Thùy Trâm ở Hà Nội và nói rằng gia đình cô vẫn còn

sống, hiện đang làm việc ở một bệnh viện cách Hà Nội 8km về phía nam…

Đó là chuyện về cuộc phiêu lưu của cuốn nhật ký của bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Bởi vì trong 35

69

năm qua cuốn nhật ký chỉ được mở ra vài lần – có lẽ không quá mười lần nên chúng gần như còn

nguyên như hồi Thùy Trâm viết vào đó lần cuối cùng. Giấy bắt đầu bị rạn và phải thật cẩn thận

khi cầm nó nhưng nét chữ vẫn còn rất rõ như các bạn có thể thấy trong đĩa CD…

FRED

Đăng trong Blogroll | Leave a Comment »